Một tháng trước, Intel đã tiết lộ về nền tảng Centrino thứ năm cập nhật nhất hiện nay, có tên mã là Santa Rosa. Về cấu trúc, Santa Rosa không khác gì nhiều so với nền tảng trước là Napa. Nền tảng mới tăng tần số FSB lên 800MHz, và có mức FSB nguồn điện mới thấp hơn (400MHz) giúp kiểm soát khả năng tiêu thụ điện năng trong khi tăng hiệu suất lên mức cực đại.


Mở đầu


Tốc độ xung nhịp đồng hồ CPU tăng nhẹ do có FSB cao hơn, chip nhanh nhất tăng từ 2.33GHz lên 2.40GHz, hiệu suất tổng thể không tăng đáng kể. Santa Rosa là nền tảng Centrino thứ hai bổ sung hỗ trợ 802.11n, vì Napa đã bổ sung thêm hỗ trợ cho chuẩn không dây mới.


Tính năng độc đáo mà Santa Rosa cung cấp đó là công nghệ Turbo Memory. Là Card flash trên board chủ, Turbo Memory của Intel được thiết kế để hoạt động như là một lớp khác trong hệ thống bộ nhớ, nhớ dữ liệu và tăng hiệu suất/tuổi thọ pin trong máy tính xách tay. Một phiên bản của Turbo Memory sẽ được phát hành cho máy tính để bàn, nhưng chúng ta vẫn quan tâm đến tác động của Turbo Memory tới máy xách tay hơn.





Trong bản đánh giá Santa Rosa trước, chúng ta có thể thấy rằng Turbo Memory hoạt động không hiệu quả lắm trên thực tế. Hiệu suất không tăng lên (trong một vài trường hợp còn thấp hơn), tiêu thụ điện năng thì không giảm xuống, và công nghệ này không thực sự phát huy tác dụng. Nhà sản xuất máy tính xách tay đã xác nhận những nhận xét này khi cả HP và Sony từ chối sử dụng Turbo Memory của Intel trong dòng Santa Rosa, nhưng Intel thì vẫn cho rằng Turbo Memory là sự phát triển của công nghệ.


Chúng ta có thể gặp các kĩ sư của Intel để hiểu thêm về Turbo Memory và biết được tại sao chúng ta không thấy kết quả tích cực nào. Giải thích của Intel cùng với những ý tưởng lóe lên trong đầu đã thôi thúc chúng tôi viết bài này.


Hiểu biết về Turbo Memory: Không đơn giản như bạn nghĩ


Trước khi có thể đánh giá chính xác tính hiệu quả hay không hiệu quả của Turbo Memory, chúng ta cần hiểu chính xác cơ chế hoạt động của nó. Turbo Memory là flash trên board chủ được chia tách thành hai phần: một cho ReadyDrive và một cho ReadyBoost. Turbo Memory có hai loại, loại 1GB và 512MB, với phần dành riêng 512MB và 256MB tương ứng.


Phần ReadyDrive của Turbo Memory được thiết kế để làm việc với công nghệ ReadyDrive của Vista. Mục tiêu cơ bản của ReadyDrive là lưu dữ liệu từ đĩa cứng để tăng hiệu suất hoặc tăng tuổi thọ pin trong máy tính xách tay. Vai trò chính của ReadyDrive trong máy tính xách tay là tăng tuổi thọ pin.


ReadyDrive có thể tăng tuổi thọ pin bằng cách thực hiện những yêu cầu dữ liệu không có bộ nhớ flash, tiêu tốn ít điện năng và làm cho ổ cứng hoạt động hết công suất khi không cần thiết. Nếu trong phần ReadyDrive của Turbo Memory lưu đủ dữ liệu thì ổ cứng có thể tiếp tục quay trong một khoảng thời gian đáng kể, do đó tăng độ bền của pin. Dĩ nhiên sự thành công của ReadyDrive phụ thuộc vào khả năng lưu trước dữ liệu chính xác trong bộ nhớ đệm của Turbo Memory, nhưng nếu nó hoạt động, thì sẽ tiết kiệm được đáng kể pin.


Ổ cứng trong hệ thống kiểm tra là Hitachi Travelstar 7K100, có điện thế từ 0.9W đến 1.2W khi quay và không truy cập dữ liệu. Ở chế độ tiêu thụ điện năng thấp nhất, 7K100 chỉ có điện thế 0.2W, nên nếu ta giữ ổ quay thì tiết kiệm điện toàn hệ thống có thể ở mức 0.7W- 1W. Nếu ổ cứng tìm dữ liệu, điện năng tiêu thụ khoảng 3W, và đọc dữ liệu ngốn mất 2.3W. Nếu dữ liệu được đọc từ bộ nhớ flash điện năng thấp, tiết kiệm tiêu thụ điện năng có thể rất lớn.


Intel đã từng tuyên bố rằng mỗi watt của hệ thống điện mà bạn tiết kiệm điện có thể thêm 20-30 phút tuổi thọ pin, có nghĩa là ReadyDrive của Turbo Memory có thể tăng đáng kể tuổi thọ pin. Thực tế là bộ nhớ flash 512MB không đủ để giữ cho ổ cứng ít quay trong suốt quá trình, nên câu hỏi đặt ra là khi sử dụng thực tế thì sẽ có hiệu quả thế nào? Bạn sẽ có câu trả lời ngắn gọn, nhưng trước hết chúng ta sẽ xem xét Turbo Memory có thể làm gì cho ReadyBoost.


Lược bớt từ Windows Vista Performance Guide:


ReadyBoost có chức năng hỗ trợ cho SuperFetch, giúp SuperFetch có chỗ để lưu dữ liệu- mặc dù không tốt như RAM- tốt hơn là chỉ đọc dữ liệu ngoài ổ cứng. Tuy nhiên điểm khác biệt quan trọng là trong khi RAM truy cập nhanh và có tốc độ truyền tải nhanh hơn, bộ nhớ flash chỉ có thời gian truy cập nhanh còn tốc độ truyền tải thì thậm chí còn thấp hơn ổ cứng. Do đó, ReadyBoost chỉ hữu dụng với điều kiện yêu cầu truy cập dữ liệu ngẫu nhiên, trong khi đó truyền tải lớn hơn cần truy cập tuần tự có thể được gửi trực tiếp tới ổ cứng. Chính điểm này đã làm ReadyBoost kém hiệu quả hơn SuperFetch với ổ flash USB với giá dưới 20USD/gigabyte. Mức giá này rẻ và là cách hiệu quả để tăng hiệu suất cho máy tính có RAM hạn chế trong một số tình huống.


ReadyBoost cũng được xem là bộ nhớ đệm đọc của hệ thống pagefile, quét đĩa ít bị hỏng hơn nếu được thực hiện với ổ flash USB. Bạn không cần lo lắng về những dữ liệu quan trọng được lưu và mất trong ổ USB; dữ liệu đã được nén và mã hóa để người khác không xem được khi không sử dụng ổ đĩa.


Điểm lưu ý của ReadyBoost là làm cho mọi thứ chạy nhanh hơn khi bộ nhớ đã đầy, nhưng liệu Turbo Memory có nhanh hơn so với việc chỉ dùng ổ USB ngoài? Ưu điểm khi sử dụng ReadyBoost so với ổ đĩa USB đó là dữ liệu được lưu trong phần dành riêng ReadyBoost vẫn liên tục khi máy tạm nghỉ. Trong hệ thống bình thường khi sử dụng ổ USB cho ReadyBoost, nếu bạn tạm dừng máy, dữ liệu ReadyBoost trên ổ USB sẽ không còn giá trị vì ổ USB có thể đã bị xóa và Vista có thể không bảo vệ nguyên vẹn dữ liệu đó.


Turbo Memory không gặp vấn đề đó vì flash ở trên board chủ và có thể xử lý dễ dàng, do đó Vista sẽ lưu dữ liệu ReadyBoost liên tục trong flash khi tạm nghỉ. Ưu điểm ở đây là bất kì dữ liệu nào được lưu thông qua ReadyBoost có thể truy cập được khi tạm nghỉ, không thực hiện được khi không sử dụng Turbo Memory. Đây là ưu điểm duy nhất Turbo Memory với ReadyBoost mang lại, và nếu hiểu được cơ chế làm việc của nó thì bạn sẽ biết được khi nào và ở đâu nó sẽ có tác động đến việc sử dụng hệ thống.




Vấn đề số 1: Control Panel được lập trình quá đơn giản


Turbo Memory của Intel đòi hỏi cài đặt driver thì mới sử dụng được công nghệ nhưng driver Intel cung cấp lại hơi tỉ mỉ trong hoạt động. Bạn cài đặt driver và Vista yêu cầu khởi động lại, khi Vista đã sử dụng được thì đó là lúc có vấn đề khác cần xử lý.


Cần khởi động lại Vista lần thứ hai để kích hoạt hoàn toàn Turbo Memory. Intel cho rằng việc phải khởi động lại lần thứ hai chính là vấn đề của Microsoft và Microsoft không nói gì về vấn đề này nên chúng ta vẫn chưa thể biết được.


Sau khi khởi động lại lần thứ hai, bạn vẫn chưa rõ được vấn đề gì xảy ra. Vista cần phải khởi động thêm một số lần nữa (thêm thời gian chờ giữa các lần khởi động) để nhận Turbo Memory và hoạt động, và theo Intel, cần phải học cách sử dụng bộ nhớ đệm ReadyDrive.





Nếu bạn theo đúng tất cả các chỉ dẫn này, khởi động đủ lần và có NAND Flash, Turbo Memory của Intel sẽ được kích hoạt. Thậm chí nếu bạn có control panel khá tốt thì bạn có thể sử dụng để xác nhận xem nó đã hoạt động hay chưa.


Control panel có hai hộp kiểm tra dùng để chọn “loại bộ nhớ đệm bạn muốn kích hoạt”:





Nếu bạn không chạm vào những hộp thoại này thì mọi chuyện sẽ ổn.


Theo Intel, chúng không được dùng để kích hoạt/vô hiệu hóa Turbo Memory, và sử dụng chúng có thể kích hoạt hoặc vô hiệu hóa công nghệ mà không có cách nào xác định được việc gì đã xảy ra. Intel cho biết chúng ta không nên chạm vào bất kì thứ gì trên trang này vì những gì mà Control Panel đưa ra có thể không đúng, Control Panel chỉ được sử dụng như công cụ để xác nhận ReadyBoost và ReadyDrive đã được kích hoạt. Control Panel sẽ cho bạn biết liệu bộ nhớ đệm ReadyBoost/ReadyDrive có được kích hoạt hay không, với điều kiện là bạn không chạm vào bất kì nút nào.


Sau khi khởi động đi khởi động lại (tổng cộng là 7 lần kể cả khởi động do cài driver), để máy tính ở chế độ chờ giữa mỗi lần khởi động trong 10 phút, và tránh xa hộp thoại kiểm tra trong Turbo Memory Console; sau đó thì Turbo Memory cũng được kích hoạt với độ chắc chắn tới 100% và chúng ta có thể bắt đầu kiểm tra.

Vấn đề số 2: Tại sao mọi thứ lại chậm hơn?


Mới nhìn qua Santa Rosa và Turbo Memory của Intel, chúng ta có thể thấy rằng hiệu suất không được tăng cường và trong một số trường hợp nó còn tệ hơn. Ví dụ như thời gian để máy tính xách tay chuyển sang chế độ hibernate:


Khi Turbo Memory đã được kích hoạt, hệ thống cần thêm 11 giây để tạm nghỉ. Thời gian để chuyển sang chế độ tạm nghỉ không giảm đi. Phần ReadyBoost của Turbo Memory có thể làm cho việc truy cập dữ liệu nhanh hơn một chút sau khi thoát khỏi chế độ hibernate. Công nghệ này không được thiết kế để làm cho thời gian tạm nghỉ chậm hơn. Rõ ràng chúng ta cần xem xét thêm.


Trong phần đầu đầu tiên, chúng ta thấy không có sự khác biệt về hiệu suất khi Turbo Memory được kích hoạt và không được kích hoạt khi kiểm tra PCMark '05 HDD. Trong trường hợp chúng ta đã vô hiệu Turbo Memory nhưng nó vẫn hoạt động trong cả hai cuộc kiểm tra thì kết quả trở thành vô nghĩa. Khi đã biết cách kiểm tra Turbo Memory một cách thích hợp, chúng ta cùng xem xét PCMark '05.


Cuộc kiểm tra PCMark '05 HDD bao gồm cả việc sử dụng đĩa thực, thực hiện mọi việc như khi đánh giá ổ cứng. Các cuộc kiểm tra riêng biệt như sau:


Windows XP Startup: Đây là các bước khởi động Windows® XP, có hoạt động đĩa xuất hiện khi khởi động hệ điều hành. Cuộc kiểm tra có 90% thao tác đọc và 10% thao tác ghi. Bước này không có hoạt động của người sử dụng.


Application Loading: Đây là các bước có hoạt động đĩa như tải các ứng dụng khác nhau. Bao gồm việc mở và đóng những ứng dụng sau:


Microsoft® Word
Adobe® Acrobat® Reader 5
Windows® Media Player
3DMark®2001SE
Leadtek® Winfast® DVD
Mozilla Internet Browser
Trace tải ứng dụng có 83% đọc và 17% ghi.


General Hard Disk Drive Usage: Các bước này có các hoạt động đĩa như sử dụng một số ứng dụng thông thường:


Mở tài liệu Microsoft® Word, thực hiện kiểm tra ngữ pháp, lưu và đóng.
Nén và giải nén sử dụng Winzip
Mã hóa và giải mã một file sử dụng PowerCrypt
Quét virut ở file sử dụng F-Secure® AntivirusTM.
Chạy file MP3 sử dụng Winamp
Chạy file WAV sử dụng Winamp
Chạy video DivX sử dụng codec DivX và Windows® Media Player
Chạy file video WMV sử dụng Windows® Media Player
Xem ảnh sử dụng Windows® Picture Viewer
Duyệt Internet sử dụng Microsoft® Internet Explorer
Tải, chạy và thoát game sử dụng Ghost Recon của UbisoftTM Tom Clancy.
Tổng kết có 60% đọc và 40% ghi.


Virus Scanning: Quét virut là một nhiệm vụ quan trọng trong việc sử dụng PC hiện nay. Thông thường việc quét virut bị tắc khi quét ổ cứng, việc xem quét virút như kiểm tra HDD là có thể hiểu được. Cuộc kiểm tra bao gồm kiểm tra hoạt động quét virut của các file với tổng dung lượng là 600MB. Cuộc kiểm tra quét virut hầu như là đọc đĩa (99.5%).


File Write: Bước này có hoạt động trên đĩa như ghi các file 680MB trên đĩa cứng và không có hoạt động đọc trong cuộc kiểm tra này.


Thời gian chờ đĩa được rút ngắn còn 50 phần nghìn giây nhằm tăng tốc thời gian chạy lại. Nghiên cứu cho thấy rằng 50 phần nghìn giây là thời gian chờ ngắn nhất không ảnh hưởng đến kết quả kiểm tra. Kết quả của cuộc kiểm tra HDD được thông báo trên Megabytes tính theo giây.


Về cơ bản PCMark truy cập đĩa theo các cách sử dụng khác nhau và chạy lại càng nhanh càng tốt. Các cuộc kiểm tra tiến hành trong thế giới thực nhưng hiệu suất thực lại nghiêng về hệ thống phụ nhanh. Trong trường hợp của Turbo Memory, chúng ta kiểm tra thuật toán để chuyển dữ liệu trong bộ đệm.





Kết quả đặc biệt ấn tượng, hiệu suất trong kiểm tra XP Startup, Application Launch và General Usage thậm chí còn thấp hơn hai lần khi sử dụng Turbo Memory. Rõ ràng là trong thế giới thực thì không như vậy vì chúng ta không thấy được sự tăng cường nào trong việc khởi động hệ thống hoặc thời gian bắt đầu ứng dụng, nhưng công nghệ này đã hoạt động trong môi trường được kiểm soát này.


Kết quả thu hút nhất là kết quả về file ghi, vì đây là cuộc kiểm tra duy nhất mà hiệu suất giảm khi sử dụng Turbo Memory. Tốc độ ghi ở bộ nhớ flash không tốt như cuộc kiểm tra ổ cứng 7K100.


Theo Intel, việc tạm nghỉ hệ thống không bị chậm đi bởi Turbo Memory nhưng kĩ sư Intel đã sao lại kết quả cuộc kiểm tra. Có vẻ như tốc độ ghi của bộ nhớ flash đã làm cho hiệu suất giảm xuống khi có quá nhiều thứ phải ghi (ví dụ như việc tạm nghỉ). Liệu máy tính xách tay Santa Rosa có gặp phải vấn đề này hay không vẫn chưa chắc chắn nhưng đó là vấn đề chúng ta gặp phải khi sử dụng Turbo Memory.

Vấn đề số 3: Giữ ổ cứng quay ít hơn


Vấn đề cuối cùng phải giải quyết trước khi bắt đầu xem xét ảnh hưởng của Turbo Memory với tuổi thọ pin và cách kiểm tra nền tảng. Turbo Memory yêu cầu Windows Vista, vì có hai công nghệ Vista (ReadyDrive và ReadyBoost) nhưng hầu hết benchmark tuổi thọ pin lại không hoạt động trong hệ điều hành này.


Chúng ta chuyển sang một số cuộc kiểm tra hiệu suất thông thường và với một vài thay đổi, chuyển sang tính tuổi thọ pin. Bằng cách lặp lại SYSMark 2007, WordBench 6 và các cuộc kiểm tra khác nhau chúng ta có thể tạo ra kịch bản kiểm tra nhằm chạy hết pin theo cách lặp đi lặp lại, mà Turbo Memory có thể hoạt động.





Khi kiểm tra Turbo Memory, Intel đã khuyến nghị giảm thời gian quay HDD xuống mức thấp nhất có thể chấp nhận được, là 1 phút trong Vista. Chúng ta lựa chọn cài đặt hợp lý hơn là 3 phút, nhưng cũng xem kết quả khi cài đặt thời gian 1 phút để xem ảnh hưởng của cài đặt này đến tuổi thọ pin. Chúng ta thấy rằng khi sử dụng Turbo Memory, sự khác biệt về tuổi thọ pin giữa mức cài đặt 3 phút và 1 phút là không đáng kể, hai phút là khác biệt lớn nhất trong các cuộc kiểm tra.




Làm tăng tuổi thọ PIN?


Khi đã hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động của Turbo Memory, chúng ta cố gắng để khởi động nó. Chúng ta sử dụng cùng một nền tảng kiểm tra trong bài đánh giá Santa Rosa, ngoại trừ việc thay bộ nhớ 1GB bằng bộ nhớ 2GB.


Cuộc kiểm tra đầu tiên có chạy phần lặp SYSMark 2007 trong khi hệ thống chạy bằng nguồn điện pin. Chúng ta sử dụng đồng hồ stopwatch để tính tuổi thọ pin từ khi bắt đầu kiểm tra cho đến khi hệ thống tắt với mức pin 0%.





Không ngoài dự đoán, tuổi thọ pin hoàn toàn không tăng lên khi sử dụng Turbo Memory. Thậm chí với ổ cứng được cài để quay sau 1 phút không hoạt động, như vậy hiện tại Turbo Memory cũng không tăng thêm được phút nào tuổi thọ pin.


Có thể SYSMark không có mấy ảnh hưởng khi chạy trên nền Turbo Memory nên chúng ta chuyển sang các cuộc kiểm tra đơn giản hơn.


PC WorldBench 6 đo hiệu suất trong các ứng dụng đơn lẻ chạy tách biệt; thiếu trình đa nhiệm có nghĩa là cơ hội tìm một môi trường để dữ liệu có thể được tải trước sang bộ nhớ đệm ReadyDrive. Vấn đề duy nhất với WorldBench là mỗi cuộc kiểm tra phải khởi động lại trước và sau khi thực hiện kiểm tra, làm cho benchmark kém thực tế hơn vì thông thường bạn không khởi động lại máy tính 6 phút một lần.


Cuộc kiểm tra WorldBench đầu tiên là benchmark Mozilla; người sử dụng có thể duyệt web khoảng 4.5 phút và chạy kiểm tra càng nhanh càng tốt trên hệ thống.





Chúng ta có thể thấy tuổi thọ pin tăng lên đáng kể, tổng cộng là 20 phút, sử dụng Turbo Memory. Tuổi thọ pin tăng 16% là do cài đặt dữ liệu thấp vì tất cả các cuộc kiểm tra tải trang web nhiều lần.


Chúng ta tìm kiếm chế độ sử dụng máy tính xách tay phổ biên khác với WorldBench và chạy benchmark Microsoft Office:





Một lần nữa chúng ta lại thấy kết quả ấn tượng; Turbo Memory đã tăng tuổi thọ pin lên hơn 12% hay là 17 phút.


Trong cuộc kiểm tra tuổi thọ pin cuối, chúng ta thấy ảnh hưởng của Turbo Memory với việc xem DivX ngoài ổ cứng. Chúng ta tải rip DivX phim Casino và lặp lại nó cho đến khi hết pin.





Cuộc kiểm tra chạy DivX chỉ làm tăng 4% tuổi thọ pin, hay nói cách khác là tăng thêm 8 phút chạy phim. Thời gian không lớn nhưng khi chạy bằng pin thì tăng thêm phút nào hay phút đấy.


Điểm thu hút nhất ở đây là có sự tăng cường nhiều mặt khi sử dụng Turbo Memory. Từ chỗ tuổi thọ pin không tăng thêm tí nào khi dùng SYSMark, tuổi thọ pin đã tăng hơn 16% khi dùng WorldBench. Chúng ta hy vọng rằng sẽ không có ảnh hưởng trong thực tế nhưng có vẻ như những gì chúng ta có được sẽ thấp hơn nhiều nếu bạn thực hiện thêm các nhiệm vụ khác.


Khi bạn cố gắng tiết kiệm từng phút cho pin thì bạn không thực hiện quá nhiều công việc, có nghĩa là có cơ hội cho Turbo Memory tạo ra sự khác biệt.


Về ReadyBoost?


Về cơ bản, ReadyBoost có thể đẩy nhanh quá trình lưu dữ liệu vào đĩa (paging) của hệ điều hành. Mặc dù ReadyBoost có thể xử lý tốt nhưng bạn cũng không muốn rơi vào tình huống này. ReadyBoost có thể giúp bạn tăng hiệu suất nhưng nếu chỉ dựa vào ReadyBoost thì có thể đã đến lúc bạn cần tăng cường bộ nhớ cho hệ thống.


Hôm nay chúng ta cùng đánh giá lại ReadyBoost, sử dụng một cuộc kiểm tra tương tự như chúng ta đã thực hiện trong Vista Performance Guide. Chúng ta mở Adobe Photoshop CS3 cùng với hình ảnh 91 6MP, và tính thời gian tải tất cả chúng.





Bạn có thể thấy rằng khi sử dụng ReadyBoost, thời gian tải giảm xuống 24 giây thậm chí với bộ nhớ 1GB, nhưng chỉ nhanh hơn khoảng 7% so với lúc không sử dụng ReadyBoost. Chuyển sang dùng bộ nhớ 2GB trong mạng khác thì thời gian tải giảm 33 giây, hay là 10%. Bộ nhớ 1GB là dung lượng bộ nhớ cơ sở nhỏ nhất mà chúng ta có vào thời điểm kiểm tra.


Dĩ nhiên việc bổ sung thêm bộ nhớ khác thì tốn tiền hơn so với việc bổ sung thêm ReadyBoost và trong trường hợp này ReadyBoost có thể cho bạn hiệu suất tương tự như khi sử dụng thêm bộ nhớ. Nếu chú ý đến những hạn chế về bộ nhớ như đã được minh họa trong Vista Performance Guide, ReadyBoost chính là giải pháp tốt cho vấn đề thiếu bộ nhớ.


Chúng ta có thể thấy được ưu điểm thật sự của ReadyBoost nhưng nó không được sử dụng nhiều trong hệ thống với bộ nhớ tốt.




Kết luận


Khi Intel giới thiệu phiên bản Centrino thứ năm, chúng ta đã thấy thất vọng. Đó là Centrino chậm nhất mà chúng ta từng thấy kể từ khi thương hiệu này ra đời và có vẻ như nền tảng này được giới thiệu tranh thủ thời khắc chuyển giao sang năm mới. Chúng ta đều kì vọng vào những tính năng của Turbo Memory của Intel nhưng chúng ta thất vọng khi thấy nó không hữu dụng.


Một số nhà sản xuất đã công khai đả kích Turbo Memory, cho rằng Turbo Memory không giúp ích được gì cho người sử dụng. Những thông tin mới đây nhất cho thấy rằng Turbo Memory có thể có ảnh hưởng tích cực tới tuổi thọ pin nhưng cuộc kiểm tra cho thấy không dễ mà có những tác động tốt. Thành thực mà nói việc tiết kiệm được 8 phút khi xem phim không đủ ấn tượng vì chúng ta phải trả thêm chi phí khi bổ sung Turbo Memory cho máy tính xách tay (ít nhất là 100USD).


Tuy nhiên những kết quả lạc quan lại cho thấy Turbo Memory có nhiều triển vọng vì tăng tuổi thọ pin hơn 10%, thêm được hơn 20 phút thời gian sử dụng. Vấn đề là có thường xuyên đạt được kết quả này hay không vì khi dùng SYSMark, Turbo Memory không làm tăng thêm tuổi thọ pin.


Khi sử dụng một cách bình thường, chúng ta hy vọng tuổi thọ pin tăng từ 5-10%, trong đó có việc xem phim. Tuổi thọ pin có tăng lên nhưng không nhiều như chúng ta mong đợi. Bài nghiên cứu này cho biết thêm một chút về những gì Turbo Memory có thể làm và rõ ràng là nó có triển vọng.


Có hai vấn đề mà Intel cần giải quyết để tăng tính hiệu quả của Turbo Memory: dung lượng và phần mềm. Vấn đề dung lượng thì đơn giản; bộ nhớ đệm ReadyDrive càng lớn thì bạn càng lưu trữ được nhiều dữ liệu , do đó không cần đến đĩa cứng. Vấn đề phần mềm thuộc về Microsoft hơn là Intel, nhưng quan điểm là: bộ phận lấy trước dữ liệu ở Turbo Memory càng linh hoạt, bạn càng tiết kiệm được nhiều điện và tăng hiệu suất.


Sony cho biết rằng vào phút chót, Microsoft đã xóa mã có trong phần ReadyDrive khỏi Windows Vista để có thể phát hành Vista đúng hạn định. Vấn đề này vẫn còn gây tranh cãi, nhưng rõ ràng là đã có một vài thay đổi. SuperFetch hoạt động khá thông minh và có vẻ việc kết hợp SuperFetch và Turbo Memory đem đến những tác động tích cực hơn.


Lợi ích đối với máy tính để bàn thì kém rõ ràng hơn, vì tiết kiệm vài watt của toàn hệ thống không phải là con số lớn. Cũng có những bằng chứng cho thấy hiệu suất tiềm năng nhưng chúng ta cần phải tăng dung lượng flash ReadyDrive lên đáng kể và làm cho nó linh hoạt hơn trong việc lấy trước dữ liệu để đem lại lợi ích thật sự.


Hiện nay chúng ta có thể đánh giá Turbo Memory của Intel khả quan hơn nhưng rõ ràng là công nghệ này vẫn còn trong giai đoạn trứng nước, mở đầu cho những cải tiến và phát triển công nghệ trong thời gian tiếp theo. Chúng ta cũng có thể đưa ra kết luận về nền tảng Santa Rosa, đó không phải là thứ bạn nhất thiết phải nâng cấp, đó chỉ là sự phát triển về chuẩn của Intel. Turbo Memory có thể tốt nhưng lợi ích thu được có thể khác nhau. Chúng ta hy vọng Centrino tiếp theo được giới thiệu vào năm 2008 sẽ có dung lượng flash lớn hơn và tối ưu hóa phần mềm nhiều hơn.



Đây chỉ là bản TEXT - Xem nội dung hoàn chỉnh tại HHVN...

BÌNH LUẬN - BÀI VIẾT @ HHVN

CÁC CHỦ ĐỀ KHÁC: